Tướng mắt và những dự báo



Mắt là “cửa sổ tâm hồn” như nhân gian thường nói: Điều đó nói lên nội tâm của con người. Nội tâm trong sáng hay nội tâm mờ tôi, hẹp hòi. Về mặt tướng lý thì sâu xa hơn. Đôi mắt là nơi nhìn thấy ngay thần khí và nhân cách của con người.

Qua ánh mắt, nụ cười ta thấy thành tâm. Song tướng lý còn thấy cả bản tính cô” hữu – “bất biến” cả những thay đổi theo thời vận – duy biến và cả thường biến lẫn đột biến. Cả bôn thể trạng của con mắt: bất biến, duy biến, thường biến và đột biến của đôi mắt cho ta những thông tin về tính cách, về tình cảm, thể trạng, nội tâm và về ứng xử cũng như bệnh cảnh.

Quan sát tướng mắt bao gồm: Hình, thể, sắc, thần, khí, cách nhìn. Và từ đó mà ta đưa ra những thông tin thuộc nhân tính, nhưng thông tin tình cảm tức thời…

Bam-mi-Han-Quoc32

  1. Hình dạng bao gồm.

–      Mắt to tròn có thần dũng: Quyền lực uy nghiêm.

–     Mắt dáng mắt phượng mi cong: Bản tính nghiêm trang, sống vì nghĩa. Đây là mắt của quan to, mẫu nghi thiên hạ.

–     Mắt nhỏ ti hí: Bản tính gian tà. Mắt của kẻ trộm cướp, gian trá, thâm, tham.

–     Mắt có góc cạnh (thường là hình tam giác, đầu mắt to đuôi mắt nhọn): Bản tính nham hiểm, ác độc, kẻ nhiều mưu mô, thâm trầm.

–      Mắt to thô lô”: Bản tính lỗ mãng, chết yểu.

–     Mắt ngắn, lông mày dài: Bản tính keo kiệt, chắt bóp. Mắt của kẻ tham làm giầu.

–     Mắt dài (đuôi mắt dài): Bản tính khó gần, mắt của người hạnh phúc bất ổn, vợ chồng hay ly biệt.

–     Mắt ngắn tròn (khoảng 2cm): Bản tính xu nịnh, mưu mô, mắt của cận thần, thân tính của quan chức.

–     Mắt nhỏ vống lên (giống như hai gò nhô cao): Bản chất hung hiểm, lạnh nhát. Mắt của kẻ dễ bị ngộ hình, chết yểu.

–     Mắt giống hình mắt rắn: Bản tính cô độc, tàn bạo. Kẻ dễ bị gặp nạn tai, hình phạt.

–     Mắt như mắt hùm, beo, sói: Bản chất giã man, độc địa. Mắt của kẻ sát nhân (kẻ đao phủ, sát thủ, kẻ “đâm thuê chém

mướn”).

–      Mắt giống mắt dê: Anh em hay xô sát nhau.

Hình dạng của mắt không biến đổi, trừ trường hợp bị can thiệp (tai nạn, phẫu thuật, bệnh tình) bởi các tác nhân khác.

–     Các hình dạng bình thường (hạt vải…) bản tính không đặc biệt như đã nêu trên. Đây là hình dạng mắt của đại đa số người: Bản tính biết điều, thiện tâm.

  1. Thể trạng mắt.

Thể trạng mắt chỉ thông thường có ba thể trạng:

–     Mắt khô (ít nước mắt) nhìn vào không tươi nhuận: Bản tính khó khăn, thích yên tĩnh, yên thân, xa lánh. Mắt của ẩn sĩ thời xưa hoặc con người thích sông tách biệt không muôn giao tiếp.

–     Mắt ướt sáng lóng lánh (mắt ướt, đậm nước mắt, luôn đưa đẩy): Bản tính lẳng lơ, dâm dục. Mắt của người thích luyến ái, đĩ thoã.

–     Mắt tươi nhuận bình thường: Bản tính thiện tâm. Mắt của muôn người.

  1. Sắc màu mắt (của người Việt Nam).

Màu sắc của mắt là màu sắc của con người gồm màu sắc của tròng đen, tròng trắng.

–     Tròng đen, trắng rõ ràng: Tính thông minh, hoạt bát. Mắt của các thánh nhân tu sỹ.

–     Mắt tròng “đen” (đồng tử) màu nâu: Tính dũng mãnh, liều lĩnh.

–     Mắt sắc đỏ (đỏ như mắt cá chày): Tròng đen bình thường. Tròng trắng vằn đỏ: Tính hung, nóng (không nói đến mắt của người đang có các bệnh: Cao huyết áp, hỏa vượng…).

–     Mắt sắc vàng óng, tươi nhuận: Tính gia trưởng, kiêu hùng. Mắt của bậc quyền quý vương tôn.

–     Mắt tròng trắng mà trắng dã: Tính bội nghĩa, sông không tình “kẻ vong ân bội nghĩa”.

–     Mắt tròng trắng: Trắng, tròng đen – đồng tử có sắc đỏ: tính kỷ luật, tháo vát. Mắt của võ quan.

–     Mắt sắc đỏ ngả vàng: Chết yểu (không kể người đang bị bệnh gan, sốt rét ác tính…).

–     Mắt mà sắc đồng tử xanh: Tính hiếu thắng, thích hoạt động (người đang có bệnh thận…).

*    Lưu ý: Sắc mắt ở đây là sắc mắt chuẩn của người Việt Nam, chủ yếu là đen sám nhẹ.

+ Những sắc mắt đột biến kể trên là sắc mắt của người Việt khác biệt sắc mắt của đồng loại.

+ Ở trên, sắc đồng tử xanh, vàng hoe, đỏ không phải là sắc mắt của các dân tộc Âu Châu hay Trung Cận Đông v.v…

Như vậy, sắc mắt cho ta không chỉ các thông tin về tính tình (thuộc tướng lý) mà còn cho ta thông tin về bệnh tật (thuộc y lý) mà các thầy thuốc thường quan tâm.

  1. Thần khí.

–     Mắt có thần khí: Sáng long lanh (nhìn ảnh chụp như có hai đồng tử): Tư chất thông minh lắm.

–     Mắt thần khí kém (nhìn lờ đờ) tư chất chậm hiểu, kém cỏi trí tuệ

–     Mắt thần khí bình tường có hồn: Trí tuệ minh mẫn, tư chất bình thường.

*    Lưu ý: Mắt thần khí bình thường không long lanh cũng không lờ đờ. Đó là thần khí mắt chung của muôn người.

+ Thần khí là hồn của mắt nhưng cũng không quan trọng lắm về quan niệm tướng lý.

  1. Cách nhìn.

Cách nhìn cũng thể hiện nhân cách. Tướng thuật nhận định từ cách nhìn của cá nhân để dự báo những đặc biệt của tính cách.

–     Người luôn nhìn thẳng: Tinh thần ổn định. Con người đàng hoàng.

–     Người nhìn lấm lét: Tinh thần bất định. Người ấy không đàng hoàng, tâm địa gian sảo.

–     Mắt nhìn trộm (nhìn khi người khác không để ý): Người tính tò mò, hay soi mói.

–     Mắt nhìn như cười tươi nói: Tính rộng rãi, tâm đức tốt. Không bao giờ gây oán chuốc thù. Sống hòa thuận.

–     Mắt nhìn ngược: Tính tình kiêu ngạo thái quá, tự cao tự đại.

–      Mắt nhìn xuống: Tính nhút nhát, uỷ mị, thiếu tự tin.

–      Mắt nhìn lơ đãng: Tính mơ mộng, con người giàu ý tưởng.

–     Mắt nhìn trừng trừng: Tính soi mói, thiếu thiện cảm. Con người luôn nghi kỵ, đa nghi, muốn ra oai.

–      Mắt nhìn hiền từ: Tấm lòng từ thiện, giàu tình thương.

–     Mắt nhìn đắm đuối: Tính đa tình, mộng mơ vô bến bờ, thích ái tình say đắm.

–     Mắt nhìn thất thần – vô hồn: Lo sợ, sắp rời xa thế giới loài người.

  1. Cách nhìn vừa có tính “bất biến” vừa có tính “duy biến” lại vừa “đột biến”.

–     Tính “đột biến”: Xảy ra trong tình huống tâm lý thay đổi đều cho thấy tính khí như:

+ Vui: Mắt nhìn sáng lạn như cười. Chỉ tâm trạng phấn khích.

+ Giận: Mắt nhìn long sòng sọc. Chỉ tính khí nóng nảy, bảo thủ.

+ Giận mà mắt không thay đổi sắc khí: Con người nguy hiểm. Người sống hai mặt.

+ Mắt nhìn nhạt nhẽo: Người vô tình, lòng dạ sắt đá.

+ Mắt nhìn tha thiết: Ước muốn cầu khẩn, nhiệt tình.

Tính “đột biến” tuy thể hiện thành thể tướng tức thời. Song thực ra nó cũng ngầm phản ánh bản chất “bất biến” và “duy biến” của cá thể đó. Nghĩa là nó cũng xuất phát từ bản chất gốc.